Một số công dụng về công nghiệp của Cây Dừa nước chưa được khai thác tại ĐBSCL


' Hàng dừa nước lung linh... ru mình trong nắng mới..'

(Vọng Cổ miền Nam)

Dừa nước, một cây rất gần gũi với người dân nông thôn Miền Nam Việt Nam nhất là những vùng sông rạch và ven rừng ngập mặn. Dừa nước có rất nhiều công dụng không kém cây tre tại vùng nông thôn Miền Bắc. 

Một số công dụng về công nghiệp khác chưa được khai thác tại VN, như tại các quốc gia Đông Nam Á khác ( Mã Lai, Indonesia..)

Tên khoa học và các tên gọi khác:
Nipa fruticans thuộc họ Aracacea (họ Cau)
Tên Anh-Mỹ: Nipa palm, Mangrove palm; Pháp: palmier nipa
Philippines: Nipa; Indonesia: Buah atap; Bangladesh:gol pata
Trung Hoa: Shui ye (Thủy Gia)
Tên Hán Việt: Du Long Thái
Tại Việt Nam: Dừa nước cũng được gọi là dừa lá
(Nypa= tên la-tinh hóa của tên địa phương Nypah tại Moluccas, Philippines; fruticans = mọc thành bụi, ít hóa gỗ)

Đặc tính thực vật:
Thân mọc ngầm trong bùn, dài và to (đường kính từ 25-40 cm). (Tuy gọi là thân nhưng về phương diện thực vật , đây là một thân giả do sự kết hợp của các bẹ, không có hệ thống tế bào tăng trưởng). Lá gần như mọc vòng ở ngọn cây, hình lông chim, rất dài: trung bình 5-6 m (có thể đến 9 m) có các đoạn thon, hẹp và nhọn có vẩy màu xanh lục ở mặt dưới. Mép lá cong về phía dưới. Hoa thuộc loại đồng chu (hoa đực và cái mọc chung trên một cây) mọc thành cụm cao đến 2 m. Hoa cái nở rộ thành chùm ở đầu cành. Hoa đực, ở nhánh thấp hơn, màu vàng hoặc đỏ mọc thành nhánh dạng đuôi sóc mang nhiều hoa. Hoa đực khi trưởng thành mang nhiều phấn có tính kết dính. Hoa thụ phấn do ong (loài trigona), côn trùng (nhất là ruồi drosophila).

Sau khi thụ phấn, những quả nhỏ tự ép vào nhau để tạo thành một quả lớn. Quả loại quả hạch hình cầu, họp thành buồng, gắn trên đầu một cuống gọi là quài. Quả có đường kính đến 30 cm, màu vàng lợt khi còn non, sau đó chuyển sang vàng xậm và khi gìà màu nâu xậm, trong chứa một hạt cứng, màu trắng có thể to bằng một quả trứng gà. Hạt có khả năng mọc mầm ngay khi còn trong quả. Phôi nhũ khi còn non có dạng trong như thạch.
Dừa nước bắt đầu trổ hoa và kết trái vào năm thứ 4 hoặc thứ 5 kể từ khi trồng và sau đó có thể tiếp tục khai thác đến 50 năm.

Dừa nước được xem là có nguồn gốc tại Nam châu Á, mọc trong những vùng sình lầy nước lợ vùng ven cửa biển có thủy triều lên xuống và dọc sông rạch có phù sa bồi đắp. Vùng phân bố bao gồm các bờ biển và cửa sông đổ vào Ấn Độ Dương, Nam Thái Bình Dương, Bắc Úc và các hải đảo giữa Thái Bình Dương, Phi Châu nhiệt đới...
Tại Mexico, dừa nước được đưa từ Philippines đến trồng tại vùng bờ biển Zihuatanejo (ven Thái Bình Dương) từ 1527.

Tại Việt Nam, dừa nước mọc trong những khu vực rừng sát ngập mặn, ven rạch nước lợ gặp rất nhiều tại Cà Mâu, Gò Công, Long An (miền Nam) và Hội An, Ba Ngòi (miền Trung). Cây không phát triển dù đã thử trồng tại miền Bắc (vùng ven biển Hải Phòng). Cây tùy thuộc vào điều kiện thổ nhưỡng nên tuy cùng trồng ở miền Nam, phẩm chất của quả như kích thước, hương vị cũng thay đổi và khác nhau khá nhiều. Dừa nước Bến Tre, do ảnh hưởng của nguồn phù sa sông Cửu Long, cho quả lớn, vị ngọt trong khi đó dừa nước Cần Giuộc (Long An) do nguồn nước mặn nên quả tương đối nhỏ và nước cũng như cùi nhạt hơn.

Thành phần hóa học và dinh dưỡng:
Rất it tài liệu nghiên cứu về thành phần hóa học của dừa nước: Phân chất quả (sau khi lột vỏ, chỉ dùng phần nội bì) tại Khoa Sinh Hóa ĐH Calabar (Nigeria), phổ biến trên Pakistan Journal of Nutrition Số 7-2008 đưa ra các số liệu:
Quả chứa: (tinh theo trọng lượng khô= Dry matter)
- Chất béo 1. 5 %
- Chất đạm thô 2.3 %
- Chất sơ 2.4 %
- Carbohydrates 24.3 %
- Tro hay khoáng chất tổng cộng: 4.2 %
Hạt chứa (theo trọng lượng khô)
- Chất béo 0.95 %
- Chất đạm 1.27 %
- Chất xơ 2.50 %
- Khoáng chất 2.70 %
- Carbohydrates 51. 08 %

Thành phần khoáng chất (tính theo mg/ 100 gram):
Quả Hạt
- Sodium 3.5 11.6
- Potassium 147.2 128.5
- Calcium 9.6 5.00
- Magnesium 24.7 11.3
- Sắt 16.1 10.6
- Đồng 0.06 0.6
- Kẽm 7.1 7.6
Quả, Hạt vả Rễ còn chứa tannins, hợp chất 

Hạt chứa alkaloids
Về phương diện dinh dưỡng, quả và hạt dừa nước được xếp vào loại thực phẩm cung cấp nhiều carbohydrates giúp tạo năng lượng, lượng chất béo tương đối thấp. Chất xơ từ quả và hạt thuộc loại không tiêu hóa đối với người, nhưng có thể dùng cho thú vật.
Hạt, tuy chứa HCN (0.63 mg/100 g trọng lượng khô) thấp hơn nồng độ nguy hại để gây ngộ độc rất nhiều (36mg/100g).
Phân chất về thành phần chất béo của dầu ép từ cơm dừa nước (kernel oil) tại ĐH Sriwijaya, Malaysia (Proceedings of the 2nd International Seminar on Chemistry 2011) ghi nhận:
- Tỷ lệ dầu thu được: 27.4 % (trích bằng dung môi)
23.2 % ( khi ép khô)
25.1 % (ép kéo bằng hơi nước)
- Độ nhớt của dầu: 76.39
- Chỉ số iod: 22.53 %
- Chỉ số savon hóa: 32.86 mg KOH/g 

Sợi từ vỏ ngoài của quả chứa 0.2 % khoáng chất, 3.3 % cellulose, 3.1 % hemicellulose và 3.6 % lignin.
Hoa chứa một hỗn hợp tạo mùi thơm gồm đến 25 hợp chất khác nhau gồm các chất chuyển hóa acid béo, hợp chất carotenoids, benzenoids...(Journal of Plant Research Số 115-2002)

Nghiên cứu khoa học:
Hoạt tinh chống oxy-hóa:
Nghiên cứu tại ĐH Putra (Malaysia) ghi nhận:
Hàm lượng các hợp chất loại polyphenolics: Quả non chứa 6.8 mg/1 g. Quả chín: 0.22 mg/1 g
Hàm lượng flavonoids: Quả non 3.3 mg/ g và quả chin 0.07 mg/1g
Các hợp chất trong quả non có hoạt tinh thu nhặt các gốc tự do và chống oxy-hóa, bảo vệ tế bào chống lại phản ứng oxy-hóa Hemoglobin và phản ứng ly giải hồng cầu (International Journal of Food, Nutrition & Public Health Số 1/2/3-2012)
Hoạt tính hạ đường và làm giảm đau:

Dịch chiết thô bằng methanol từ lá và đọt non dừa nước có các hoạt tính:
Giúp hạ đường trong máu khi thử trên chuột cho dùng những lượng đường thật cao. Nồng độ dịch chiết có hiệu ứng cao nhất được xác định là 500 mg/ kg trọng lượng cơ thể chuột. Hoạt tính hạ đường cao hơn là glibenclamide (liều 10 mg/kg, dùng làm đối chứng.
Làm giảm đau khi thử trên chuột bị gây vặn vẹo thân bằng acid acetic. Phản ứng đau giảm được khoảng 38 %. Liều sử dụng tốí ưu là 600 mg dịch chiết/ kg, có thể so sánh với aspirin 200mg/kg dùng làm đối chứng, gây giảm đau khoảng 49.3 % (Pakistan Journal of Pharmaceutical Sciences Số 24-2011)

Các chủng men trong nước trích từ quài dừa:
Từ quài dừa sáp có thể phân lập được 4 loài men: Saccharomyces cerevisiae, Candida tropicalis, Candida parapsilosis và Lachancea fermentati. Trong 4 loài này, Lachancea có khả năng tạo sự lên men từ nước trích để lấy ethanol cao nhất (cho 18.7 g/l), hiệu ứng lên đến 75 % (Journal of Renewable and Sustainable Energy Số 4-2012).

Sử dụng trong Dược học dân gian:
Dược học dân gian tại nhiều quốc gia Á Châu dùng một số bộ phận của dừa nước làm thuốc trị bệnh.
Tại Philippines: Nước sắc từ lá tươi dùng trị những vết thương lở loét. Rễ và lá, đốt thành tro dùng trị đau răng, nhức đầu. Nước từ quài dừa, lên men, pha loãng để rửa mắt, trị đau mắt đỏ.
Tại Việt Nam: Dược học cổ truyền cho rằng dừa nước có vị ngọt, tính hàn, có các công dụng giúp tăng cường khí lực, tươi nhuận nhan sắc, giải nhiệt, chỉ huyết dùng để trị các chứng bệnh như trúng nắng, chảy máu cam, thổ huyết... dưới dạng nước giải khát.
(Truyền thuyết 'thuốc Nam' trong dân gian cho rằng: 'Ăn thịt cá sấu, xỉa răng bằng cọng dừa nước sẽ bị phù mặt và chết' có lẽ dựa trên những câu chuyện đồng quê lưu truyền kể lại từ thời khẩn hoang miền Nam: Dùng cả bắp dừa nước để đâm vào thịt cá sấu và cá sấu bị 'khống chế' dễ dàng (?)

Công dụng:
Thực phẩm:
Nước nhựa ngọt (sap) trích từ cuống hoa (quài) dừa nước để làm rượu. Tại Philippines rượu này được gọi là tuba. Nươc nhựa này có thể để tiếp tục lên men cho một loại giấm 'đặc sản' tên là Sukang Paombong. Tại Mã Lai nước nhựa còn dùng làm đường (theo kiểu đường thốt nốt). Sản lượng đường từ dừa nước khoảng 20.3 tấn/ mỗi hecta cây trồng. Đường từ dừa nước (gula metaka) là một 'sản phẩm' xuất khẩu của Mã Lai.

Một phương pháp ly trích nươc nhựa được mô tả như sau:' Khi buồng hoa đã ra các quả non, cắt cuống buồng sát đến giới hạn hình thành quả, thường cách mặt đất khoảng 60-80 cm; đút cuống vừa cắt vào một ống tre và hứng dịch ngọt chảy ra. Dịch này chứa 17% đường và nhiều men. Mỗi ngày có thể hứng được khoảng 0.5 lít nhựa ngọt từ một cuống hoa. Có thể thu hoạch liên tục trong 50 ngày ...'

Rượu từ dừa nước: Rượu từ dừa nước được dùng trong dân gian tại nhiều nơi ở Á Châu: Sri Lanka (panam culloo), Phi (tuba, soom), Indonesia (arak), Mã Lai, Ấn (tuak) và Việt Nam (rượu dừa nước). Rượu dừa nước tương đối nhẹ, vị ngọt (hơi giống rượu nếp), mầu đục như sữa và có bọt, chứa một số men ở giao trạng. Phản ứng lên men tạo rượu diễn ra ngay sau khi lấy nước nhựa từ quài dừa và mạnh nhất là sau 24-48 giờ. Nước nhựa chứa khoảng 12-15 % đường gồm glucose, fructose, maltose, raffinose, 0.23 % chất đạm và 0.02 % chất béo. Quá trình lên men tạo ra phần chính là ethanol, kèm theo với acetic và lactic acid. Lượng ethanol trong rượu có thể đạt từ 3 đến 8 %. Rượu dừa nước chứa nhiều khoáng chất, khoảng 0.02 % vitamin B12, 0.08 % Vitamin C và những vitamin thuộc nhóm B như thiamine, riboflavin và pyridoxin. (Popular fermented foods and beverages in SE Asia -SV Law &Abu Bakar)

Cái (thịt) dừa non dùng làm nước giải khát tại nhiều nơi trên thế giới, làm hương vị cho các món thạch, chè (như chè Attap của Trung Hoa), kem...
Mầm dừa non có thể ăn sống.
Đuông, một loài côn trùng phá hoại, gây bệnh cho những cây loài cọ (palm) cũng có trong dDừa nước. Loài đuông thường gặp trong dừa nước là loài Rhynchophorus phoenicis. Đuông dừa nước đưọc xếp vào loại 'thực phẩm quý và hiếm' chứa nhiều chất bổ dưỡng (Xin đọc bài:Món ăn đặc biệt từ côn trùng: Đuông' của cùng tác giả).

Những công dụng khác:
Lá dừa nước:
Lá dừa nước được dùng nhiều nhất tại Á Châu (kể cả Việt Nam) vào việc làm vật liệu lợp nhà, đan các vật dụng như rổ, rá. Lá lợp nhà tương đối bền có thể từ 4-5 năm (lợp thưa), và 8-10 năm (khi lợp dày và khít).
Tại vùng đồng bằng Nam Phần, lá dừa nước, dùng lợp nhà được chia thành nhiều loại:
Để nguyên tàu hay xẻ làm đôi theo chiều dọc được gọi là lá xẻ.
Róc rời từng tàu lá, phơi vừa đủ khô, bẻ gập miếng lá khoảng 2/3 rồi cặp vào sống lá và kết dính lại, được gọi là lá cần đốp hay lá chằm cốp.
Lá chằm còn chia thành lá hàng và lá đặt: Lá hàng làm sơ sài hơn, khoàng cách giữa 2 miếng lá hơi thưa, chiều dài tấm lá khoảng 0.8-1.2m. Lá đặt, chằm kỹ hơn, khoảng cách khít hơn, sống lá dài hơn, chiều dài tấm lá thường khoảng 1.6 m
Lá lúc còn non, chưa lú ra, có màu vàng nhạt, mùi thơm dịu được gọi là cà bắp (Theo Nguyễn văn Ba, trong bài Dừa Bến Tre) và cà bắp của dừa nước mọc hoang khá dài, có nhiều công dụng:

Để gói bánh 'lá dứa'
Làm gầu (danh từ địa phương là kéo gầu) 'Lá cà bắp được vuốt mép và phơi cho héo héo. Người kéo gầu sử dụng hai tay và một chân. Chân xếp bằng sát mặt ván để kềm gầu. Tay thì rà mép gầu bằng cách cho mép lá này vào bên trong mép lá khác, nối tiếp, khít khao và thuận chiều để gầu không bung ra. Kéo gầu xong, còn phải lận quai. Dây lạt cột và quai làm bằng sống lá cà bắp..' Gầu có thể dùng để xách nước, chuyền nước, giỡ cơm đem đi ruộng...
Đan quạt (danh từ địa phương: bẻ quạt)
Làm giây lạt (bằng cọng lá cà bắp)
Lá, cuống khô, vỏ quả... đều có thể dùng làm củi đốt.

Dừa nước dùng làm nguyên liệu chế ethanol:
Nước (nhựa ) lấy từ quài dừa nước chứa lượng đường khá cao có thể dùng để chế ethanol, năng suất có thể đạt từ 7000 đến 20,000 lít ethanol/ mỗi hecta cây trồng (năng xuất này cao gấp 2-3 lần hơn so với lượng ethanol lấy từ mía). Có thể lấy nước hứng từ quài khi cây đạt 5 tuổi và tiếp tục khai thác đến 50 năm.
Mã Lai là quốc gia đứng đầu trong công nghiệp chế biến ethanol từ dừa nước. Tiểu bang Perak đã cho công ty Pioneer Bio Industries thuê 10 ngàn hecta nơi dừa nước mọc hoang để khai thác ethanol và thu được 92.2 triệu USD tiền thuê đất. Sản lượng, theo công ty lên đến 6.5 tỷ lít ethanol (khoảng 1.7 tỷ gallons)

Theo Nhóm NC sưu tầm từ Dược Sĩ Trần Việt Hưng


Tài liệu sử dụng:
Wild Fact Sheets: Nipah Palm on the Shores of Singapore.
Philippines Medicinal Plants: Nipa
Edible Fruit -Tropical Palm Plant Foods (Jerilee Wei)
Từ Điển Cây Tthuốc Việt Nam (Võ văn Chi)

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Cổng đám cưới Nam Bộ miệt vườn từ lá cây dừa nước

Nhà mái lá dừa nước ở Miền Trung - nhà chống bão