HẠN CHẾ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG: GIẢI PHÁP TỪ CÂY DỪA NƯỚC
Biến
đổi khí hậu toàn cầu đã được hầu hết các quốc gia trên thế giới quan tâm sâu sắc
và Nghị định thư Kyoto (1997) là kết quả của sự thống nhất về quan điểm của
nguyên thủ 165 nước, trong đó có Việt Nam, nhằm giảm khí thải gây ra hiệu ứng
nhà kính - yếu tố làm gia tăng tốc độ nóng lên của khí hậu. Diễn biến của tác động
biến đổi khí hậu sẽ dưa đến nhiều thảm họa môi trường như hạn hán, cháy rừng,
lũ lụt . . . trong đó, hiện tượng nước biển dâng là mối quan ngại hàng đầu đối
với nhiều quốc gia ven biển mà Việt Nam là 1 trong 5 nước chịu tác động mạnh mẽ
nhất của hiện tượng này. Nếu hội nghị toàn cầu về biến đổi khí hậu (COP15) diễn
ra từ 7 - 18.12 tại Copenhagen (Đan Mạch) thất bại, điều đó chứng tỏ "hệ
thống chính trị trên toàn thế giới không giải quyết được những thách thức mà
chúng ta phải đối mặt trong thế kỷ này" - Chủ tịch hội nghị COP15, Connie
Hedegaard nói, thì bản thân mỗi quốc gia phải nỗ lực tự giải quyết vấn đề của
chính mình nhưng phải đặt nó vào mối liên hệ toàn cầu. Trong quá trình phát triển
của châu thổ sông Mekong, sự bồi lắng, vun đắp các vùng đất ven biển và mở rộng
về phía vịnh Thailand trước đây có sự tham gia của một loài thực vật hết sức đặc
biệt, cây dừa nước (Nypa fruticans) - một sản vật của tự nhiên có giá trị kinh
tế độc đáo, lại mang ý nghĩa quan trọng trong bảo vệ sinh thái môi trường ngập
mặn ven biển.
Trong
khoảng 6 – 7 thập kỷ trở lại đây, với sự phát triển mạnh mẽ của nền công nghiệp
hiện đại, đời sống kinh tế của nhân loại có những bước tiến đáng kể nhưng cũng
kèm theo đó là nhiều biến động bất thường của khí hậu toàn cầu. Trên bề mặt
Trái đất, khí quyển và thủy quyển không ngừng nóng lên gây tác động mạnh mẽ đến
sự ổn định của môi trường sinh thái, đã và đang gây ra nhiều điều tồi tệ cho
con người: gia tăng mực nước biển, băng hà lùi về hai cực, những đợt nóng, bão
tố và lũ lụt, khô hạn, tai biến, suy thoái kinh tế, xung đột và chiến tranh, mất
đi sự đa dạng sinh học và phá huỷ hệ sinh thái.
Những
kết quả nghiên cứu được công bố vào tháng 9/2006 cho thấy, nhiệt độ thế giới đã
tăng lên với tốc độ chưa từng có trong vòng ít nhất 12.000 năm qua. Chính điều
này đã gây nên hiện tượng Trái đất nóng lên trong vòng 30 năm trở lại đây. Một
số minh chứng dưới đây cho thấy những hệ lụy nghiêm trọng mà nguyên nhân được
xác định là do tác động cực đoan của khí hậu trong thời gian gần đây như đã có
khoảng 250 triệu người bị ảnh hưởng bởi những trận lũ lụt ở Nam Á, châu Phi và
Mexico. Các nước Nam Âu đang đối mặt nguy cơ bị hạn hán nghiêm trọng dễ dẫn tới
những trận cháy rừng, sa mạc hóa, còn các nước Tây Âu thì đang bị đe dọa xảy ra
những trận lũ lụt lớn, do mực nước biển dâng cao cũng như những đợt băng giá
mùa đông khốc liệt. Tại Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Banglades, Indonesia .
. . bão lớn xảy ra triền miên trong nhiều thập niên gần đây mà nguyên nhân được
chỉ ra là do hiện tượng ấm lên của bầu khí quyển trái đất. Các dữ liệu thu được
qua vệ tinh qua theo dõi liên tục nhiều năm cho thấy số lượng các trận bão
không thay đổi, nhưng cường độ mạnh hơn rất nhiều, sức tàn phá đã tăng lên rất
lớn và mức ảnh hưởng ngày càng có phạm vi rộng hơn, đặc biệt là ở vùng Bắc Mỹ,
Tây Nam Thái Bình Dương, Ân Độ Dương, phía Bắc của Đại Tây Dương. Một điểm dễ
thấy là số lượng các trận bão lớn, lốc xoáy cường độ mạnh tăng gấp đôi, trùng hợp
với nhiệt độ bề mặt đại dương tăng lên. Trận sóng thần ở Ấn Độ Dương
(26/12/2004) đã cướp đi sinh mạng của hơn 200.000 người thuộc nhiều quốc gia;
Bão Katrina đổ bộ vào các bang Florida, Louisiana, Mississippi . . . thuộc nước
Mỹ (29/8/2005) gây thương vong lên đến hàng ngàn người và thiệt hại kinh tế ước
tính 25 – 30 tỷ USD, hay như siêu bão Nargis đổ bộ vào Myanmar (02/5/2008) là
thảm họa thiên nhiên gây nên hậu quả tàn khốc nhất với hơn 135.000 người thiệt
mạng, hơn 2.000.000 người lâm vào cảnh vô gia cư; Trận cháy rừng khủng khiếp do
thời tiết quá khô hạn vừa xãy ra ở nước Úc (10/02/2009) đã làm chết hơn 210 người
và làm bị thương hơn 500 người cùng những thiệt hại nặng nề về vật chất; Gần
đây nhất là vào ngày 03/5/2010 có ít nhất 27 người đã thiệt mạng khi mưa lớn
cùng bão sấm sét hoành hành khắp khu vực đông nam nước Mỹ, đặc biệt là ở bang Tennessee.
Việt
Nam nằm hoàn toàn trong vòng đai nhiệt đới của nửa bán cầu bắc, thiên về chí
tuyến hơn là phía xích đạo, có chế độ khí hậu nhiệt đới, ẩm – gió mùa. Nhiệt độ
trung bình năm từ 22ºC đến 27ºC. Số giờ nắng khoảng 1.500 – 3.000 giờ, nhiệt
bức xạ trung bình năm 100kcal/cm². Hàng năm, có khoảng 100 ngày mưa với lượng
mưa trung bình từ 1.500 đến 2.000mm. Độ ẩm không khí trên dưới 80%. Mùa lạnh và
khô từ tháng 11 – 4, còn mùa nóng và mưa diễn ra từ tháng 5 – 10. Tuy nhiên các
chỉ số này thay đổi theo chiều dài đất nước và theo cả địa hình cho nên mùa mưa
với lũ lụt và mùa khô với hạn hán thưòng mang tính cực đoan và gây nhiều hậu quả
nghiêm trọng. Do nằm dọc theo đường di chuyển bão Tây – Bắc Thái Bình Dương, Việt
Nam được xem là một trong 10 nước trên thế giới được coi là dễ bị tổn thương nhất
trước áp thấp nhiệt đới, với trung bình mỗi năm có 6 – 7 trận bão hay áp thấp
nhiệt đới ảnh hưởng đến vùng bờ biển của Việt Nam, đặc biệt là miền Bắc và miền
Trung.
Theo
số liệu quan trắc, trong khoảng 50 năm qua nhiệt độ trung bình ở Việt Nam đã
tăng lên 0,5 – 0,7oC. Điều này cho thấy xu thế tăng nhiệt độ cứ qua 10 năm lại
lớn lên, mùa nóng sẽ khắc nghiệt hơn và lượng mưa cùng với cường độ mưa sẽ tăng
lên đáng kể. Sự biến đổi thất thường của thời tiết được thể hiện qua đợt mưa lớn
trái mùa tại các tỉnh miền Bắc. Ví dụ: từ ngày 30/10 đến chiều 01/11/2008, tại
thủ đô Hà Nội một trận mưa với lượng mưa đạt gần 500mm đã gây ra cảnh ngập lụt
trầm trọng, thiệt hại cả về người và tài sản của nhân dân. Các trận bão gần đây
mà Việt Nam phải hứng chịu đã trở nên khốc liệt và quỹ đạo các trận bão dường
như đã chuyển hướng về phía Nam, vốn là những mảnh đất an toàn, trong những năm
gần đây. Chỉ riêng trận lụt lịch sử diễn ra vào cuối năm 1999 đã cướp
đi 800 sinh mạng và gây thiệt hại hơn 300 triệu USD. Thêm vào đó, chúng ta
hẳn vẫn còn nhớ đến sự tàn phá của cơn bão Xangsane (tháng 10/2006) với sức gió
mạnh lên đến trên cấp 13 (149km/h), gió giật lên đến 205km/h làm sóng biển dâng
cao 7m.
Sự
biến đổi của khí hậu sẽ làm cho các tác động tự nhiên vốn đã khắc nghiệt sẽ
càng sâu sắc và có nguy cơ biến các vùng đất ở Nam Trung bộ thành bán hoang mạc.
Ở một số khu vực như các tỉnh miền Trung và đồng bằng Sông Cửu Long, lũ xuất hiện
với cường độ ngày càng tăng, trong đó có 70 – 75% diện tích đồng bằng Sông Cửu
Long và 10 – 12% diện tích đồng bằng Sông Hồng bị đe doạ ngập lụt hàng năm.
Theo Chương trình môi trường LHQ (1993) mực nước biển bao quanh Việt Nam đã
dâng cao 5cm từ giữa 1960 đến những năm 1990 và theo ước tính của Tổng cục Khí
tượng – Thuỷ văn thì mực nước biển đang dâng cao trung bình là 2mm/năm. Nước biển
dâng kéo theo hiện tượng xâm thực, xói lở bờ biển đã và đang xãy ra, ví dụ ở Cà
Mau có một số địa phương bị xói lở 600 ha, với các dải đất rộng 200m bị mất. Mực
nước biển dâng cao chắc chắn còn làm cho tình trạng xâm mặn ở các vùng ven biển
trở nên tồi tệ, gây nên sự khó khăn trong khai thác nước ngọt phục vụ tưới và
sinh hoạt. Đồng bằng Sông Cửu Long, vựa lúa cả nước với hơn 1.5 triệu ha đất
nhiễm mặn, chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng lớn nhất. Biến đổi khí hậu chắc chắn có
tác động đáng kể đến nghề cá và nuôi trồng thuỷ sản của Việt Nam, với sự biến mất
các loài cá quý hiếm, làm suy giảm mạnh sinh vật phù du sẽ dẫn đến tình trạng
di cư và giảm mạnh khối lượng lớn cá. Do mực nước biển dâng cao, các trại nuôi
trồng thuỷ sản buộc phải di dời và kéo theo đó là việc phải tái đầu tư vốn,
thay đổi tập quán cũng như định cư sản xuất...
Năm
2007, Ngân hàng Thế giới đưa ra dự báo Việt nam là một trong năm nước (bốn nơi
còn lại là Ai Cập, Suriname, Bahamas, Bangladesh) bị ảnh hưởng nghiêm trọng của
nước biển dâng do biến đổi khí hậu. Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc
(UNDP) đã tính toán ba kịch bản biến đổi khí hậu cho Việt Nam, trong đó kịch bản
xác định nhiều nguy cơ hiện hữu nhất là khi mực nước biển dâng lên 1m thì vựa
lúa đồng bằng Sông Cửu Long sẽ bị ngập chìm tới hơn 1/3 diện tích, cuộc sống và
sinh kế của hàng triệu người ven biển bị ảnh hưởng, vấn đề an ninh lương thực bị
đe dọa nếu không có những giải pháp ứng phó kịp thời.
Trong
bối cảnh chung của Việt Nam và thế giới, người viết muốn đề xuất đến một giải
pháp dưới đây:
Những
biến động thời tiết bất thường mà nguyên nhân là sự biến đổi khí hậu toàn cầu
đã gây nên những thiệt hại lớn đến đời sống và làm đảo lộn cuộc sống của người
dân. Sự báo động toàn cầu về gia tăng nhiệt độ bề mặt Trái đất và mực nước biển
ngày càng dâng cao, chế độ thời tiết gió mùa bị xáo động bất thường; bão có xu
hướng gia tăng về cường độ, bất thường về thời gian và hướng dịch chuyển; thời
tiết mùa đông nói chung ấm lên, mùa hè nóng thêm; xuất hiện bão lũ và khô hạn bất
thường. Hiện tượng ngập úng vùng đồng bằng châu thổ mở rộng vào mùa mưa
lũ, sự xâm thực ngang gây sạt lở ở các dòng sông ngày càng mạnh ảnh hưởng đến
dân cư sống tập trung ở 2 bờ trên nhiều khu vực từ Bắc chí Nam. Hiện tượng này
cũng đồng thời tạo cồn, bãi bồi, lấp dòng chảy các sông, nhánh sông ở vùng hạ
lưu; hoặc có hiện tượng bồi lấp những sông đã xây dựng hệ thống đê kiên cố tạo
nên thế địa hình ngược: đáy sông nổi cao hơn cả đồng bằng hai bên sông. Vào mùa
khô, hiện tượng phổ biến là nước triều tác động ngày càng sâu về phía trung du,
hiện tượng nhiễm mặn ngày càng tiến sâu vào lục địa. Hiện tượng sạt lở bờ biển,
trên nhiều đoạn từ Hà Tiên (Kiên Giang) kéo dài hàng chục, hàng trăm km đến khu
vực Cần Giờ (tp HCM) với tốc độ phá hủy bờ sâu vào đất liền hàng chục, thậm chí
hàng trăm mét, là hiện tượng xảy ra thường xuyên trong nhiều năm gần đây, liên
quan đến sự tàn phá do gia tăng bão, sóng lớn và sự thay đổi của động lực biển ở
đới ven bờ. Theo Viện Khoa học thuỷ lợi Miền nam, đặc điểm chung của tình trạng
sạt lở bờ sông và các vùng ven biển ở đồng bằng sông Cửu Long là do sóng và
dòng chảy làm xói lòng và bờ khi sức công phá của dòng chảy vượt quá sức chống
xói của đất. Sự sạt lỡ thường hay diễn ra vào lúc triều xuống thấp vào đầu mùa
mưa – lũ, khi đất thấm nước trở nên mềm yếu, tính dính kết thấp, áp lực lỗ rỗng
tăng lên, dễ bị bở rời và trọng lượng đất bờ càng nặng hơn do ngấm nước mưa. Lực
giữ đất bờ nhỏ hơn lực đẩy đất bờ ra sông nên bờ sông bị sạt lở nhanh hơn.
Có
thể không chắc chắn lắm, nhưng với những gì đã xảy ra hàng trăm năm trước, cây
dừa nước là một trong những giải pháp hữu ích để giảm thiểu tác động của quá
trình xâm thực bờ biển, chống lở đất và có thể giúp hình thành các vùng “cọc” tự
nhiên trong quá trình phát triển hệ thống đê biển. Dừa nước (danh pháp khoa học: Nypa fruticans ),
còn được gọi là Attap palm, Nipa palm, là loài duy nhất trong họ Cau (Arecaceae)
sinh sống trong đầm lầy. Loài dừa nước, duy nhất
trong chi Nypa, sinh trưởng tại miền nam châu Á và
bắc Úc. Hoá thạch của phấn hoa dừa nước đã được xác
định niên đại đến 70 triệu năm về trước. Dừa nước rất thường gặp dọc theo bờ biển
và các cửa sông đổ vào Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, từ Bangladesh tới
các hải đảo Thái Bình Dương.
Thân
cây dừa nước thường mọc ngầm và ngang dưới mặt nước, chỉ có lá và cuống hoa mọc
lên trên, do vậy, dừa nước không được xem như một loại cây gỗ, mặc dù tán lá có
thể cao đến 9 mét. Hoa cái nở rộ thành chùm ở đầu cụm hoa hình cầu, hoa đực màu
đỏ hoặc vàng dạng đuôi sóc trên những nhánh kế sau. Khi hoa đã thụ phấn, những
trái nhỏ ép vào nhau lớn lên thành như một quả bóng đường kính cỡ 25 – 30 cm
trên mỗi đầu cuống (quài dừa). Hạt dừa nước khô già sẽ rơi rụng và phân tán
theo thuỷ triều, có khi mọc mầm ngay khi trôi nổi.
Ở
một số quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, như Malaysia, Philippin, singapore...
dừa nước là cây công nghiệp được coi trọng hàng đầu, nhằm lấy nước nhựa từ hoa
dừa dùng chế biến thành đường trắng, bình quân năng suất 1 ha dừa nước một năm
có thể thu hoạch khoảng 7 tấn đường. Khi dùng để lên men rượu cồn, 1 ha có thể
sản xuất được 15.000 đến 20.000 lít nhiên liệu xanh, so với 5.000 – 8.000 lít nếu
dùng mía dường, hay 2.000 lít nếu dùng ngô (bắp). Đó là chưa kể các phụ phẩm
khác như rượu cồn, giấm, nước giải khát, bánh kẹo, y học. Khai thác dừa nước là
một truyền thống lâu đời ở Đông
Nam Á khi mà một bộ phận khá lớn cư dân các vùng duyên hải Tây Thái
Bình Dương lấy dừa nước làm nguồn thu nhập chính. Chính vì vậy, Dừa nước được
coi như một loài thực vật đang có nguy cơ bị diệt chủng tại Singapore.
Tuy
nhiên vấn đề đặt ra trong bài viết này là sử dụng dừa nước như một loại vật liệu
sống, tự nhiên trong việc kiến tạo hành lang “xanh” ngăn chống việc xâm thực, sạt
lở các vùng đất ven sông, rạch hoặc bờ biển bùn. Với khả năng chịu được nước mặn
khoảng 30 phần ngàn, rể chùm, ăn sâu vào đất, chủ yếu hút chất dinh dưỡng nên dừa
nước có khả năng phát triển mạnh trong những vùng sình lầy dọc theo bờ sông,
hay vùng ven cửa biển có thủy triều lên xuống, có nước chảy chậm bồi đắp phù sa
dinh dưỡng. Nếu để không có tác động của con người, dừa nước sẽ phát tán sinh
sôi nảy nở theo sự đưa đẩy của thủy lưu. Ngoài ra, dừa nước là loài có thể sống
còn qua một thời kỳ khô ráo ngắn hạn.
Với
những giá trị nêu trên, cây dừa nước vừa có giá trị kinh tế, vừa có giá trị trong
y học và sinh thái môi trường, nhưng cho đến hiện nay, quần thể dừa nước ven
các vùng duyên hải Nam bộ đang dần mất đi do chưa được sự quan tâm đúng mức của
giới khoa học lẫn các ngành hữu quan. Việc nghiên cứu phát triển một dự án tổng
thể về cây dừa nước và vai trò của nó trong mối quan hệ với các ngành công nghiệp,
y dược, du lịch. . . là việc nên làm ngay, trong đó cần đặc biệt chú trọng đến
khả năng chống chịu với sóng gió, bám giữ đất để tạo thành hành lang “xanh”,
ngăn chặn thảm họa nước biển dâng ở vùng châu thổ này như xưa nay nó vẫn làm là
điều rất cần thiết.
Xin
mượn lời kết của một bài báo: Vì sao những nền văn minh rực rỡ của nhân loại,
như các nền văn minh Lưỡng Hà, Ai Cập, Maya và Inca . . . bị suy tàn, thậm chí
biến mất một cách khó hiểu? Nguyên nhân gốc rễ của các hiện tượng trên chắc chắn
là hệ quả của sự biến đổi khí hậu lớn có tính toàn cầu, biểu hiện cụ thể ở từng
khu vực, lãnh thổ. Ở những quốc gia giàu có như Nhật Bản sẽ phải chi hơn 64,5 tỷ
USD để đối phó với mực nước biển dâng , hay như Trung Quốc đang xem xét việc
xây dựng hệ thống đê kiên cố dọc suốt bờ biển – một kế hoạch được coi là xây dựng
một “Vạn lý trường thành mới”, thì với Việt Nam, việc sử dụng cây dừa nước – một
vũ khí sinh thái tự nhiên tuyệt vời đã được tự nhiên ban tặng và ông cha ta đã
sử dụng ở nhiều thế kỷ trước trong quá trình mở đất – như một công cụ rẽ tiền
và hiệu quả cần được xem xét một cách nghiêm túc.
Việt
Nam là nước tham gia ký kết và tích cực thực hiện “Tuyên bố Thiên niên kỷ” của
Liên hiệp quốc năm 2000, trong đó vấn đề bảo vệ môi trường sống của hành tinh
được nhấn mạnh. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần
thứ X (tháng 4/2006) đặc biệt coi trọng yêu cầu phát triển nhanh, song phải bền
vững, trong đó có yếu tố bảo vệ môi trường sinh thái; Nghị quyết Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khóa X mới đây về chiến lược biển dài hạn cũng nhấn mạnh vấn đề
bảo vệ môi trường gắn liền với khai thác nguồn lợi của biển. Rõ ràng vấn đề đặt
ra vừa có yêu cầu bức xúc trước mắt, vừa có tầm quan trọng chiến lược lâu dài,
cần có sự báo động và hành động trước khi quá muộn.
Trần Thanh Tâm - Phòng Đảm Bảo Chất Lượng
Nhận xét